Thầy Lê Tất Tôn sinh năm 1943 tại Sơn Tây. Thầy học Khoa Toán ĐH Sư phạm Vinh từ 1960 đến 1962, rồi về dạy trường Cấp ba Xuân Đỉnh Hà Nội đến 1972 thì xung phong nhập ngũ. Năm 1976 thầy quay lại tiếp tục dạy học ở Xuân Đỉnh, đến 1982 chuyển sang Việt Đức dạy toán cho các lớp chuyên Lý. Năm 1985 thầy theo các lớp chuyên về Ams và dạy đến 2004 thì nghỉ hưu. Vợ thầy là cô Yến, giáo viên Lý. Thầy cô có 2 con gái và 4 cháu ngoại.

Lúc nhỏ đi học

Thầy sinh ngày 3/3/1943, quê ở Sơn Tây. Bố thầy vốn là Trưởng ty Thú y của tỉnh Sơn Tây thời đó. Bố thầy có 3 vợ, 8 người con. Thầy Tôn là con thứ bảy, và là con đầu của bà hai. Bố thầy là người khí phách, đã kết thân và giao lưu với luật sư Nguyễn Hữu Thọ (sau này là Chủ tịch Quốc hội) khi ông bị an trí ở Sơn Tây những năm 1950-52.

Anh thứ tư của thầy là luật sư Lê Tất Hào, luật sư tòa Thượng thẩm Sài gòn. Cụ Hào từng bào chữa cho đại tá tình báo Bắc Việt Lê Văn Trọng năm 1972. Anh thứ năm là Lê Tất Hiền – bác sỹ. Anh thứ sáu là Lê Tất Hậu – giáo viên dạy trường Hùng Vương.

Thầy Tôn học tiểu học và cấp 2 chủ yếu ở Sơn Tây, luôn là người bé nhất lớp vì học nhảy cóc. Đến lớp 8 cấp 3 thầy thi vào Chu Văn An Hà nội, và học từ từ 1957-60. Trong thời gian này, thầy tham gia cải tạo lao động: đổ thùng (dọn vệ sinh), đổ đất bãi An dương, làm đường Thanh Niên, làm Công viên Thống Nhất.

Năm 1960 thầy thi Tổng hợp Lý nhưng lại được điều vào học khoa Toán tại Đại học Sư phạm Vinh. Thầy học khóa 2 của SP Vinh, học 2 năm đến 62 thì tốt nghiệp lúc 19 tuổi.

Quá trình công tác

Sau khi tốt nghiệp đại học, thầy tình nguyện xin vào Vĩnh Linh, nhưng được điều về Hà nội dạy ở Trường cấp 3 Xuân đỉnh. Năm đầu tiên 1962 thầy chủ nhiệm một lớp 8, dạy toán cho hai lớp 9. Thầy mới 19 tuổi, còn trẻ hơn một số học trò. Thầy chịu ảnh hưởng của các tiền bối như Hiệu trưởng Võ Nham, thầy Vũ Xuân Mai tổ trưởng tổ Toán (thầy Mai sau này cũng dạy chuyên toán và về Ams). Các thầy ở Xuân Đỉnh sau này về Ams nhiều, ví dụ thầy Đoàn Khả Kính (Sử), về sau thì có thầy Đỗ Bá Khôi (là học sinh rồi sau là giáo viên), cô Đào Lan Hương (Hóa).

Thầy Tôn giỏi chơi đàn accordion (phong cầm), sáng tác nhạc, tích cực tổ chức nhiều hoạt động phong trào ở trường. Khi ấy Xuân Đỉnh là một trong các lá cờ đầu của ngành giáo dục. Thầy Tôn đã sáng tác ca khúc “Xuân Đỉnh trên đường hành quân”.

Thầy dạy ở Xuân Đỉnh 10 năm đến 1972 thì xung phong đi bộ đội, và được điều về Đoàn Công trình 18, thi công hệ thống dẫn dầu từ Trung Quốc sang Lạng Sơn rồi đi tiếp vào nam. Thầy đóng ở Lạng sơn, xây dựng các kho xăng trong hang núi.

Sau đó thầy được chuyển về Trường Trung cấp Xăng dầu. Rảnh rỗi, thầy mua tạp chí Kvant của Liên xô để làm toán, dịch và viết giáo trình.

Năm 1976 thầy xuất ngũ và về lại trường Xuân Đỉnh. Đến năm 1982 khi Hà nội có lớp chuyên Lý thì thầy về Việt Đức dạy chuyên Lý từ 1982 (lớp thầy Hàm khóa 82-85), dạy lớp thầy Nghĩa (khóa Ams siêu cổ 83-86). Đến 1985 thầy theo lớp về Ams và dạy cho đến 2004. Thầy dạy toán cho các lớp chuyên Toán, Lý, Hóa, Anh. Thầy từng làm Tổ trưởng tổ Toán, và là Chủ tịch Công đoàn thứ 4 của trường, sau thầy Kim Nghĩa.

Thầy thôi dạy ở Ams từ 2004 nhưng vẫn dạy ở các Trung tâm luyện thi cho đến 2015.

Thầy lập gia đình năm 1974. Cô Yến vợ thầy là giáo viên Lý, về công tác ở trường Xuân Đỉnh từ 1971. Thầy cô có hai con gái, 4 cháu.

Chuyện bên lề

Thầy Tôn chia sẻ hai câu chuyện sâu sắc về nghề giáo, tuy xảy ra ở các thời điểm khác nhau nhưng dường như có một kết nối âm dương để tạo cân bằng.

Chuyện thứ nhất: thầy dạy thêm cho con cái của nhiều gia đình buôn bán ở phố cổ (khi ấy thầy cô sống ở Tạ Hiện và dạy Việt Đức). Vì tiền VNĐ khi đó mất giá rất nhanh, và các phụ huynh hiểu là thầy sẽ ngại đề nghị thay đổi, nên họ chủ động đề xuất, “cứ 12 buổi thì trả thầy 1 chỉ vàng”. “Họ dạy tôi: thầy phải biết quý lao động của thầy, quý như vàng” – thầy kết luận.

Chuyện thứ hai: các thầy cô trường Ams có văn hóa ra câu đối và đối. Có một câu như sau: “Giáo bất khả áp. Giáo bất khả nịnh. Bất áp vô nhân bất tòng. Bất nịnh vô nhân bất ái. Thị giáo dã.” Dịch nghĩa: dạy không thể ép, dạy không thể nịnh. Không ép mà không ai không theo. Không nịnh mà không ai không yêu. Thế mới là dạy.

Như vậy nghề giáo chân chính phải vừa có phẩm giá lại vừa phải được trả công xứng đáng.

Leave a comment