Bài viết của tác giả Hồ Nam trên báo Hà Nội Mới Chủ nhật, ra ngày 26/11/1995. Bài do thầy Vũ Phương Lập sưu tầm.
Theo thông tin tìm được trên mạng: Hồ Nam sinh năm 1926. Học sinh trường Paul Bert – nay là Trường PTCS Phú Hòa A-Huế, là cán bộ ngoại giao của cơ quan Tổng đại diện, làm công tác vận động chính trị – văn hóa, lãnh sự tại Pháp và các nước Tây Âu từ 1969 đến 1977.

Nội dung bài viết do bạn Trần Hoàng Hà gõ lại:
SỰ KHỞI ĐẦU VÀ BƯỚC PHÁT TRIỂN
Bài “10 năm nhìn lại” của ông Đào Thiện Khải đăng trên trang 2, báo Hà Nội Mới ngày 11/11/1995 đã cung cấp cho chúng ta bối cảnh chung về tư liệu, số liệu và các nguyên nhân chủ yếu trong việc dạy tốt, học giỏi của thầy trò trường trung học Hà Nội-Amsterdam mà học sinh và nhân dân thủ đô đều mến mộ từ một thập kỷ qua: 1985-1995. Tác giả viết: “Tên thủ đô của hai nước đặt cho trường làm nhiều người chú ý”, nhưng chưa thấy đề cập đến nguồn gốc của nó.
Là một nhân chứng của sự kiện, nhân dịp này, tôi xin ghi lại những diễn biến tình cảm sâu sắc của bạn – nhân dân Amsterdam – đối với nhân dân Hà Nội từ ngày quân xâm lược ném bom ác liệt xuống thủ đô thân yêu của chúng ta.
Sau ký hiệp định Paris năm 1973 về lập lại hòa bình ở Việt Nam, theo sự phân công của lãnh đạo sứ quán, tôi từ Pháp sang Hà Lan công tác. Được tin này thị trưởng Amsterdam – tiến sĩ Ivo Samkalden mời tôi đến thăm tòa thị chính. Làm việc xong, như đã định sẵn, bạn đưa tôi đi tham quan con đê ngăn biển nổi tiếng ở phía Tây Bắc thành phố.
Một hệ thống đê hoàn chỉnh, vĩ đại hiện lên trước mắt chúng tôi. Xe ô tô các loại ngược xuôi hai chiều tấp nập. Phía biển là một cảnh tượng hãi hùng: từng đợt sóng vút lên trên mặt nước như những lưỡi dao sắc lạnh, như những quả chùy hung dữ…liên tục xô đẩy nhau ào ạt tung vào vách đá như muốn phá tên hệ thống đê để tràn ngập vào đất liền. Nhưng chỉ là “dã tràng xe cát”, hệ thống đê vẫn vững như bàn thạch. Bên trong là thủ đô Amsterdam mọi tầng lớp nhân dân đều bình yên, mọi sinh hoạt của một thành phố lớn vẫn sầm uất như bao thành phố xinh đẹp khác ở ven biển Đại Tây Dương này.
Trở lại tòa thị chính, ngài thị trưởng nhiệt tình hỏi một câu bất ngờ:
– Những hố bom trên đê sông Hồng bị máy bay đánh phá năm trước, nay ra sao rồi?
– Nhân dân thủ đô chúng tôi đã kịp thời hàn gắn lại ngay trước mùa mưa năm ngoái.
– Ồ! Nhanh vậy sao? Có chịu nổi các cơn lũ lớn không?
Trên khuôn mặt thân tình và đôn hậu của tiến sĩ thoáng hiện một nét ưu tư… Số là mùa hè năm 1972, sau hàng loạt máy bay Mỹ đánh phá hệ thống đê sông Hồng, tôi đã sang Hà Lan kịp thời thông báo với bầu bạn ở đây về nguồn gốc, hệ thống, mật độ dân số ven đê, tác động chống lũ lụt của nó và những tấm ảnh chụp các hố bom sâu hoắm cắt ngang từng đoạn đê Hà Nội. Thị trưởng xúc động siết chặt tay tôi: Nhân dân thành phố chúng tôi căm phẫn những hành động đó bao nhiêu thì càng thông cảm và khâm phục nhân dân Hà Nội bấy nhiêu. Trong đại chiến thế giới vừa qua, hệ thống đê điều của chúng tôi mà các bạn vừa đi qua cũng bị người ta (ý nói phát xít Hít – le) ném bom tàn phá, bao nỗi đau xé lòng ập đến với nhân dân Amsterdam này…
Trở lại câu chuyện, thị trưởng Samkalden nói:
– Với kinh nghiệm sẵn có, chúng tôi dự kiến sẽ giúp các bạn hàn gắn lại các vết thương trên vùng đê xung yếu ấy của Hà Nội.
Hóa ra việc tham quan hệ thống đê vừa rồi có dụng ý gián tiếp giới thiệu với chúng tôi nói trên. Tình cảm của bạn đối với ta không náo nhiệt mà sâu lắng, không khoa trương mà thiết thực. Tôi xúc động nắm tay thị trưởng, thầm cảm ơn người bạn cách ta hàng vạn dặm, đã thông cảm với cái đau của nỗi đau Việt Nam, đang lo cùng cái lo của Hà Nội.
Giây lát lặng lẽ trôi qua, với thái độ quyết đoán, thị trưởng lên tiếng:
– Như bạn biết đấy, địa thế thành phố này thấp hơn mặt biển khá nhiều, chúng tôi có kinh nghiệm xây dựng hệ thống cấp thoát nước cũng như xây dựng hệ thống giao thông công cộng hiện đại cho những thành phố lớn. Hòa bình lặp lại, nhu cầu đi lại và lưu lượng xe cộ tất nhiên sẽ đông đúc hơn. Nếu được chấp nhận, thành phố chúng tôi sẽ tham gia góp phần xây dựng các hệ thống đó cho Hà Nội…
Và như để chứng minh những khả năng thực tế của mình, ngài thị trưởng đưa tôi đi tham quan hệ thống giao thông công cộng và nhà máy lọc nước lớn ở thành phố Rotterdam, nguồn cung cấp nước sạch chủ yếu cho các thành phố lớn Hà Lan.
Noel 1973, đích thân thị trưởng sang Paris. Tại phòng khách sứ quán ta, thị trưởng vui vẻ giới thiệu:
– Cùng đi với tôi hôm nay có giám đốc giao thông công chính và giám đốc sở cấp thoát nước, hai ông có nhiều kiến thức trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Chúng tôi cũng đến để khẳng định ý định trước đây của tôi về việc giúp các bạn hai chương trình nói trên.
Trước thời điểm này, một nửa nước ta có hòa bình. Nhưng Mỹ-Ngụy liên tiếp phá hoại nghiêm trọng hiệp định Paris. Miền Bắc vẫn phải dốc sức thực hiện lời dạy của Bác: “Hễ có một tên xâm lược trên đất nước ta thì chúng ta phải chiến đấu quét sạch nó đi”. Đảng-Chính phủ đang đầu tư tâm trí vào những hành động bức thiết nhất: “Tất cả cho tiền tuyến – tất cả vì miền Nam ruột thịt”… Thịnh tình của bạn, trong giai đoạn này ta chưa thể phúc đáp được. Hơn nữa, với các công trình lớn cho một thủ đô, phải có quy hoạch tổng thể mà hồi đó ta chưa có thời gian chuẩn bị.
Tết dương lịch 1975, đồng chí Nguyễn Tuấn Liêu tham tán ĐSQ, về sau là Đại sứ nước ta tại CHLB Đức-cùng tôi sang công tác ở Hà Lan. Dọc đường, chúng tôi trao đổi về nguyện vọng rất chính đáng của thị trưởng Amsterdam. Bạn rất tốt. Đề nghị của bạn rất thiết thực. Nhưng nếu ta chậm trả lời bạn sẽ hiểu thế nào, có duy trì được nhiệt tình của bạn không, trước sau bạn vẫn muốn đóng góp cho Hà Nội một cái gì đó… Nhớ lời Bác: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, tôi đề xuất với đồng chí Tuấn Liêu: Ở thủ đô Amsterdam đã có giáo sư De Haas và giáo sư Gô chủ trì chăm lo viện trợ y tế cho ta rồi (*), nay hãy giành trường hợp này cho ngành giáo dục, tạm thời giới thiệu với bạn xây dựng một trường cấp III để bạn có hướng triển khai, khi nào có chỉ đạo của nhà ta, ta sẽ điều chỉnh cụ thể v.v…
Giờ hẹn đã đến. Bất chấp cả thủ tục lễ tân cần thiết, tiến sĩ Ivo Samkalden hồ hởi ào xuống tam cấp, vào đề ngay:
– Thế nào, các bạn thân mến của tôi. Hà Nội “bật đèn xanh” rồi chứ?
Thấy chúng tôi đang ngập ngừng, nụ cười hiền hậu trên môi thị trưởng Amsterdam đọng lại, hai đầu lông mày díu vào nhau:
– “Đèn đỏ” hay vẫn “đèn vàng”?
Sau hội ý chớp nhoáng, tôi đáp:
– Chúng tôi đang đi vào quỹ đạo “đèn xanh”.
Và nói mấy lời cảm ơn.
– Đã có gì đâu mà cảm ơn! Vấn đề là một đáp số tích cực. Tôi vẫn theo dõi tình hình vi phạm Hiệp định Paris ở miền Nam. Tuy nhiên, việc đó không hề ngăn cản chúng tôi khởi động phong trào quyên góp ủng hộ các bạn. Nếu chậm trễ, ắt sẽ có ít nhiều hạn chế do những đòi hỏi nhân đạo cấp bách của các nước khác chi phối. Chỉ cần biết các bạn muốn giúp cái gì, nhân dân thủ đô Amsterdam chúng tôi sẽ hăng hái tham gia nhiều hơn thế.
– Vâng, chúng tôi thống nhất đề nghị ngài chuyển sang xây dựng một trường trung học cấp III.
– Ô kê. Thị trưởng nhận lời không chút đắn đo – một sáng kiến tuyệt vời, rất văn hóa, phù hợp với điều kiện hiện có của chúng tôi. Vậy thì không dềnh dàng nữa, ta đi vào cách bước cụ thể ngay. Tôi đề nghị thế này: Đầu tiên, các ngài cho tôi vài tấm ảnh về ngôi trường bị bom đạn tàn phá, cảnh thầy trò dạy và học dưới mặt đất, hình của các học sinh đội mũ rơm chống bom bi… Tôi sẽ đưa ngay lên tivi kêu gọi nhân dân thủ đô tăng cường đóng góp. Xong hình thể ngôi trường, cho tôi một tấm ảnh về quang cảnh chung của nó. Tôi sẽ báo cáo kết quả ban đầu rồi đề ra yêu cầu trang bị nội thất, có cả thư viện, phòng tin học và thí nghiệm. Sau đó, để có một trường trung học hoàn chỉnh, tiếp tục cho tôi hình ảnh của bước II nhằm tạo điều kiện xây dựng đầy đủ một xưởng trường.
Những ý kiến tiếp theo của thị trưởng là nhân dân Amsterdam rất quan tâm xây dựng một trường trung học từ A đến Z và không thấy có gì trở ngại trong khả năng thực hiện. Về sau là công việc của Sở Giáo dục Hà Nội, nhận tiền ủng hộ và tiến hành thi công xây dựng ngôi trường.
Mãi đến một ngày đầu xuân 1992, tôi mới có dịp đến thăm trường. Các thầy cô giáo đón tôi vào phòng khách. Tuy chưa một lần quen biết, xong câu chuyện về mối tình hữu nghị giữa nhân dân hai thủ đô cũng như bước phát triển của trường trung học Hà Nội-Amsterdam đã diễn ra sôi nổi ngay từ phút đầu. Thầy hiệu trưởng Nguyễn Kim Hoãn – một nhà giáo nổi tiếng về đức hạnh ưu việt, nghiêm túc trong quản lý và giảng dạy, vừa tiễn đoàn khách quốc tế, vui vẻ tiếp tục câu chuyện cùng chúng tôi: Với số tiền quyên góp của nhân dân thủ đô Amsterdam từ năm 1973, trường đã từng bước hoàn thiện, tháng 9 năm 1985 bắt đầu khai giảng và tháng 1 năm 1986 làm lễ khánh thành. Tuy có chậm so với tấm lòng sốt sắng của bạn nhưng chậm mà chắc. Trong tổng số gần 50 lớp với khoảng hai nghìn học sinh giỏi thủ đô ngày ngày hăng say học tập với sự dìu dắt và quản lý của 150 cán bộ và thầy cô. Đến nay đã có 400 em đoạt các loại giải quốc gia, đặc biệt có 24 học sinh đã được dự thi quốc tế và đoạt 21 giải các loại…
“Mười năm nhìn lại” thành quả xuất sắc đó, chúng ta thật sự vui mừng về đội ngũ cán bộ-giáo viên ở đây đã làm tròn nhiệm vụ “Quan trọng và vẻ vang” như lời Bác Hồ kính yêu đã dạy, chúng ta không thể không tự hào về sự khởi đầu và bước phát triển của một trường trung học vinh dự mang tên thủ đô hai nước, càng không thể lãng quên những tình cảm tốt đẹp của nhân dân Amsterdam, của thị trưởng Ivo Samkalden – người khởi xướng và nhiệt tình phát động phong trào ủng hộ thủ đô Hà Nội từ những ngày đang kháng chiến đánh đuổi ngoại xâm.
HỒ NAM
(*) Vào năm 1968, với sự phẫn nộ với tội ác chiến tranh và cảm thông trước những đau thương, mất mát của người dân Việt Nam, ba bác sĩ người Hà Lan – Giáo sư Jaap de Haas, Bác sĩ Nick van Rhijn và Bác sĩ Fred Groenink – đã sáng lập Ủy ban Y tế Hà Lan – Việt Nam (MCNV). Mục đích chính của MCNV lúc đó là hỗ trợ thuốc men trên quy mô lớn cho những nơi bị chiến tranh tàn phá nặng nề nhất ở Việt Nam. (Datpp)


One thought on “Bài báo của Hồ Nam về khoản tiền xây trường Ams (1995)”