Thầy Vũ Phương Lập là giáo viên dạy Văn trường Ams từ năm 1986 đến 2004. Thầy kiêm giữ vị trí Phó bí thư chi bộ nhà trường. Ngoài công tác giảng dạy, thầy còn sáng tác kịch bản với nhiều vở kịch được công diễn và được giải ở các hội diễn.

Tiểu sử

Thầy sinh ngày 28/5/1940 trong gia đình có truyền thống khoa cử lâu đời. Bố thầy là Vũ Tô Bân, trong thời kỳ trước Cách mạng Tháng tám và cả thời kỳ Pháp chiếm Hà nội sau đó, cụ từng làm việc trong các nhà máy của Pháp và tham gia hoạt động bí mật cho Việt Minh, chuyển các thông tin quan trọng cho Việt Minh. Thời kỳ Nhật tạm chiếm, cụ Bân từng bị Nhật bắt giam ở Hỏa lò. Khi đó thầy Lập mới 4-5 tuổi nhưng nhớ rất rõ khi được cùng mẹ vào nhà giam thăm bố. Cụ Bân là người giỏi võ.

Vì cụ Bân hoạt động bí mật nên gia đình bị coi là “có vấn đề về lý lịch” trong một thời gian dài. Mãi đến đầu những năm 80, hoạt động của cụ mới được công khai công nhận.

Xuất thân từ gia đình có truyền thống Nho học, nên thầy Lập đọc nhiều sách từ nhỏ, và giỏi Hán Nôm. Thói quen đọc sách và kiến thức Hán Nôm đã tỏ ra hữu ích với công việc dạy học và sáng tác của thầy sau này.

Năm 1946 gia đình thầy Lập tản cư về Chương Xá, Hưng Yên. Năm 1948 quay lại Hà nội, học ở trường Nhà Kèn, nay là Tiểu học Quang Trung, quận Hoàn Kiếm, trên phố Quang Trung. Lên cấp 3, thầy Lập học trường Phổ thông cấp 3 (nay là Trường THPT Việt Đức) và trường Đoàn Kết.

Thầy Lập đủ tiêu chuẩn sức khỏe học lái máy bay, nhưng vì lý lịch nên không được nhận. Cũng vì lý lịch mà thầy cũng không được học Y Dược hay Bách Khoa. Thầy giáo của thầy khuyên học Sư phạm, môn Văn.

Quá trình dạy học trước khi về trường Ams

Sau khi rời ĐH Sư phạm, thầy Lập lên miền núi Bắc Thái (nay là Thái nguyên và Bắc Kạn) dạy học 8 năm tại trường Lê Hồng Phong, Phổ Yên, Bắc Thái (nay thuộc Thái Nguyên). Vì dạy giỏi nên thầy được các ông Hoàng Cầm, Trần Độ mời về dạy về truyền thống đánh giặc của dân tộc Việt Nam cho các sỹ quan quân đội chuẩn bị vào Nam. Các vị chỉ huy đã tạo mọi điều kiện để thầy giáo trẻ tiếp cận với các bộ sách sử, vì thế thầy Lập đã được đọc và tự học từ rất nhiều sách xưa như Binh thư yếu lược (của Trần Hưng Đạo), Hổ trướng khu cơ (của Đào Duy Từ). Quá trình tự học đã ảnh hưởng đến phong cách dạy Văn sau này của thầy, là “giảng dạy văn học phải gắn với đời sống”. Theo đó, học sinh được tự do chọn nhân vật văn học để phân tích, thay vì bắt buộc phải phân tích một nhân vật định trước. Ví dụ, khi học Truyện Kiều, học sinh có thể chọn phân tích Hoạn Thư thay vì Kiều. Thầy kể, có lần có học sinh còn chọn nhân vật từ một tiểu thuyết mà thầy chưa đọc, nên thầy phải vào thư viện tìm đọc để biết mà chấm bài! “Thế là mình học lại nó chứ còn gì nữa!” – thầy cười sảng khoái.

Thầy Lập lấy vợ năm 1970. Năm 1972 có con, gia đình chuyển về Hà Nội. Thầy dạy học ở Trường số 4 (nay là trường Lương Yên), dạy các lớp học ban đêm. Năm 1974, thầy chuyển sang dạy trường Bạch Mai – Quỳnh Mai (nay là trường THPT Trần Nhân Tông), làm tổ trưởng tổ Văn. Sau đó, thầy chuyển về Trường Bồi dưỡng Giáo viên Hà Nội, làm tổ trường tổ văn. Thầy công tác ở đó đến hết năm 1985 trước khi chuyển về trường Ams.

Quá trình giảng dạy ở trường Ams và sau đó

Thầy Lập bắt đầu dạy ở trường Ams từ tháng 1/1986, tức là từ học kỳ 2 của năm học đầu tiên của trường. Thầy chọn dạy Văn cho các lớp không chuyên Văn. Thầy dạy đến năm 2000 thì chính thức về hưu, sau đó thầy Đỗ Bá Khôi khi đó là Hiệu phó mời thầy dạy thêm 4 năm nữa, đến 2004 thì không dạy học ở trường Ams nữa.

Thầy hay khuyến khích học sinh sáng tác thơ, truyện ngắn, in thành các tập sách. Thầy kể, có lần đang dạy về gieo vần, nhìn thấy cái mành che cửa sổ, ngẫu hứng sáng tác hai câu thơ mà sau này nhiều người tưởng là ca dao: “Mành mành che nắng che mưa/ Nắng không gắt nữa, mưa thưa, mành thừa”.

Thầy Lập đảm nhận vị trí Phó bí thư Chi bộ phụ trách công tác tổ chức và trực tiếp tham gia chuẩn bị hồ sơ để Trường được trao danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới năm 2000. Vì thế, thầy giữ được nhiều tư liệu lịch sử về nhà trường, nhất là lúc thành lập trường.

Thầy có một con gái, hai cháu gái sinh đôi. Sau khi nghỉ hưu, thầy thích làm vườn, trồng cây. Nhà thầy có một khu vườn đặc biệt ở trên sân thượng, mà học sinh nào đến thăm thầy cũng nên xin lên tham quan.

Sáng tác kịch

Song song với giảng dạy, thầy Lập sáng tác kịch bản cho kịch nói. Tiêu biểu là vở kịch “Hơn đời”, được Giải nhất Liên hoan Kịch nói Toàn quốc những năm 80 trước khi về trường Ams. Đáng tiếc là có người lại cho rằng vở kịch có hàm ý “nhạy cảm”, nên đã gây ảnh hưởng khiến vở kịch bị thu mất Giải nhất. “Tác giả cũng không nhận được nhuận bút” – thầy Lập kể. Chưa hết, sau đó thầy còn bị thêm một số rắc rối.

Vở kịch đáng kể thứ hai là vở “Bộ Ba”, được các giáo viên và học sinh trường Ams biểu diễn năm 1990 ở Cung thiếu nhi Hà Nội, giành Giải nhất hội diễn ngành Giáo dục Hà Nội. Các thầy cô tham gia diễn có thầy Nguyễn Đức Mỹ (dạy Địa lý), cô Nguyễn Lan (dạy Lý), cô Phương Nam (Văn); các học sinh có Xuân Sơn (lớp Nga) và một số người khac.

Các vở kịch khác được in trong các tuyển tập kịch bản bao gồm Lựa chọn (xuất bản 1990), Không có tuổi thơ (xuất bản năm 1995), kịch về Phạm Thận Duật, v.v.

Vở kịch “Không có tuổi thơ” in trong tập Hoa cúc trắng năm 1995:

Vở kịch “Lựa chọn”, năm 1990:

Kỷ niệm với học trò

Chia sẻ của học trò cũ về lời phê của thầy Lập (năm 2000)

Video Ams Memories:

One thought on “Thầy Vũ Phương Lập

Leave a comment